CHI PHÍ DU HỌC NHẬT BẢN. Chi phí du học Nhật Bản được trung tâm VIET PROUD tối ưu cho khách hàng chỉ từ 88 triệu là đã có thể đủ điều kiện du học (Phát báo, Hộ lý, Điều dưỡng, nợ phí trả dần hàng tháng…). Hỗ trợ miễn 100% phí dịch vụ và phí hồ sơ du học Nhật
Việt Nam học tập được gì từ sự phát triển kinh tế của Nhật Bản? A Chú ý đầu tư cho khoa học, giáo dục. B Xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa C Thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. D Xây dựng " một nhà nước hai chế độ " cùng tồn tại. Phương pháp giải: Phân tích, đánh giá. Lời giải chi tiết:
Công ty phát hành: CÔNG TY TNHH ĐẦU TƯ SÁNG TẠO. Nhà xuất bản: NXB Đại Học Sư Phạm TP.HCM. Tác giả: Nguyễn Văn Hòa. Loại bìa: Bìa Mềm. Số trang: 1. Năm xuất bản: 2021. 🍀 Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học được xuất bản năm 2021, cập nhật đầy đủ những gì học
Do vậy, chỉ cần ở nhà bạn cũng có thể nâng cao tay nghề thiết kế bằng cách đăng ký những khóa học adobe Illustrator (AI). Hãy đăng ký một trong những khóa học trên ngay hôm nay để nhận được giá ưu đãi hấp dẫn bạn nhé! Top 3 Khóa học đàn organ online cơ bản lẫn chuyên
Vậy hãy xem các Bạn sẽ học được gì trong lớp tiếng Nhật cơ bản? ADC Co., Ltd Được thành lập từ ngày 28-08-2001, công ty chúng tôi trong những năm vừa qua đã đưa hàng ngàn thanh niên Việt Nam trong cả nước sang Nhật Bản làm việc và du học trong tất cả các ngành nghề
. Theo chia sẻ của TS. Phạm Việt Dũng, Tạp chí Cộng sản, Việt Nam cần học hỏi các bài học công nghiệp hoá từ chính các nước phát triển. x Nhật Bản Ngành công nghiệp Nhật Bản trải qua ba giai đoạn Từ 1945 - 1950 Đây là thời kỳ khôi phục kinh tế sau chiến tranh, Nhà nước bằng cơ chế chính sách đặt trọng tâm vào xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển một số ngành công nghiệp cơ bản, như điện, thép, đóng tàu. Từ cuối năm 1950 - 1970 Nhật Bản phát triển với tốc độ cao, diễn ra hàng loạt các cải tiến kỹ thuật. Đã thực hiện chính sách công nghiệp hóa toàn diện, vừa phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và hàng thay thế nhập khẩu, vừa mở rộng cơ sở công nghiệp phát triển các ngành mới có triển vọng, trong đó trọng tâm là sự tổng hợp cơ khí thông dụng, phụ tùng máy móc điện tử. Nhà nước có chính sách hỗ trợ thực hiện cho hướng phát triển này, như hạn chế nhập khẩu các mặt hàng công nghiệp. Từ năm 1970 Nhật Bản thực hiện tự do hóa đầu tư, phát triển cơ chế thị trường, nhà nước giảm thiểu sự can thiệp trực tiếp vào sản xuất kinh doanh. Trọng tâm của chính sách công nghiệp là đưa được nhận định và triển vọng tương lai của các ngành công nghiệp theo hướng cải cách cơ cấu ngành nghề. Sau giai đoạn này, hình thành những doanh nghiệp mạnh, chiếm lĩnh trong từng lĩnh vực, là cơ sở đưa đến sự phát triển nhanh chưa từng có của công nghiệp Nhật Bản. Hiện nay, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư CMCN Chính phủ Nhật Bản đã từng bước ban hành và triển khai các chính sách để thúc đẩy CMCN Đặc biệt, việc phổ biến và phát triển công nghệ internet kết nối vạn vật IoT và CMCN đã được Nhật Bản đẩy mạnh. Tháng 4/2014, Bộ phận Hệ thống sản xuất của Hiệp hội Kỹ sư Cơ khí Nhật Bản JSME-MSD và Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp METI cùng hợp tác thúc đẩy các doanh nghiệp Nhật Bản hợp tác với nhau, xây dựng mô hình kết nối chung, kết quả là tổ chức “Sáng kiến Chuỗi giá trị ngành công nghiệp” IVI được thành lập và chính thức đi vào hoạt động vào tháng 6/2015. Tháng 01/2016, “Kế hoạch cơ bản về Khoa học và Công nghệ lần thứ 5 giai đoạn 2016 – 2020” được công bố, trong đó đề xuất xây dựng một xã hội siêu thông minh hay còn gọi là “Xã hội Mục tiêu chính của “Xã hội là giải quyết các vấn đề xã hội bằng cách kết nối các hệ thống sử dụng công nghệ số làm nền tảng hợp nhất không gian thực và không gian số. Đây là xã hội cung cấp hàng hóa và dịch vụ theo nhu cầu của từng cá nhân. Hàn Quốc Từ sau Chiến tranh Triều Tiên kết thúc đến năm 1962, trọng tâm phát triển công nghiệp là các ngành sản xuất hàng thay thế nhập khẩu bằng cách sử dụng nguyên liệu do Mỹ viện trợ như chế biến thực phẩm, tơ sợi, may mặc. Mức tăng thu nhập quốc dân theo đầu người hàng năm chỉ đạt 1,1%. Song những năm 1960 dựa vào thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Các ngành được coi trọng là tơ sợi và công nghiệp nhẹ, gia công nông sản, giai đoạn này mức tăng trưởng thu nhập bình quân hàng năm tăng lên đến 6,7% - 8%. Từ năm 1973, Hàn Quốc bắt đầu xây dựng các ngành công nghiệp nặng nhằm cung cấp nguyên liệu và máy móc cần thiết cho các ngành khác, đồng thời nhằm phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu như thép, đóng tàu, điện tử, ô tô và hóa chất. Bên trong dây chuyền lắp ráp ô tô tự động của Hàn Quốc Với chiến lược phát triển công nghiệp này, Hàn Quốc trở thành một trong những nước công nghiệp phát triển. Sau cuộc khủng hoảng châu Á, chiến lược phát triển công nghiệp của Hàn Quốc cũng được đánh giá lại, những ngành công nghiệp công nghệ cao được ưu tiên hỗ trợ phát triển. Tháng 6/2014 Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức đưa ra chiến lược “Cải cách công nghiệp sản xuất Chiến lược này đồng nghĩa với CMCN phiên bản Hàn Quốc và là một phần trong sáng kiến hàng đầu của Tổng thống Park Gun-hye về “Kế hoạch kinh tế sáng tạo” trước đó. Mục tiêu chính của Chiến lược “Cải cách công nghiệp sản xuất gồm - Thúc đẩy việc tích hợp sản xuất và công nghệ thông tin IoT, từ đó tạo ra một ngành công nghiệp mới với mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp sản xuất/chế tạo của Hàn Quốc. - Xác lập vị thế của Hàn Quốc như một cường quốc về công nghệ thông tin với sự tích hợp của ngành công nghiệp công nghệ thông tin và nền sản xuất căn bản. - Đến 2020, xây dựng được nhà máy thông minh với tổng vốn đầu tư khoảng 24 nghìn tỷ KRW khoảng 23 tỷ USD, trong đó hỗ trợ trực tiếp từ Chính phủ Hàn Quốc chỉ dưới 10% và phần chính còn lại sẽ thu hút từ nguồn vốn tư nhân. - Thúc đẩy sự phát triển SMEs thành các doanh nghiệp có tiềm năng lớn, thông qua thông qua việc sử dụng các công nghệ nhà máy thông minh. Mục tiêu này là phản ứng trước áp lực gia tăng đối với nền kinh tế Hàn Quốc do chất lượng sản xuất của Trung Quốc ngày càng được cải thiện. - Chú trọng nâng cao các ngành công nghiệp sản xuất của Hàn Quốc bằng "năng lực mềm" thông qua tăng cường thúc đẩy sự tăng trưởng của các lĩnh vực/phân đoạn sản xuất kết hợp với công nghệ thông tin, phát triển công nghệ cốt lõi liên quan đến IoT, in 3D và dữ liệu lớn. - Mục tiêu đến năm 2024 giá trị sản xuất xuất khẩu của Hàn Quốc đạt tỷ USD, nằm trong top 4 sau Trung Quốc, Hoa Kỳ và Đức, vượt qua Nhật Bản. Đài Loan Trung Quốc Giai đoạn 1948 - 1958, dựa vào tài sản thu được từ chiến tranh và nguyên liệu nhập khẩu, bằng viện trợ của Mỹ, Đài Loan Trung Quốc thực hiện công nghiệp hóa để thay thế hàng nhập khẩu, mức thu nhập bình quân theo đầu người chỉ tăng 3%. Từ năm 1958 - 1970, bằng hàng loạt chính sách như thu hút vốn đầu tư nước ngoài, xây dựng các khu chế xuất, vay vốn lãi suất thấp... Đài Loan đã chuyển sang chiến lược công nghiệp hóa hướng tới xuất khẩu, đưa mức tăng thu nhập quốc dân lên gấp đôi giai đoạn trước. Các ngành công nghiệp được chú trọng phát triển là tơ sợi, chế biến thực phẩm, công nghiệp nhẹ chế biến, điện tử và điện gia đụng và trở thành các ngành xuất khẩu quan trọng. Trong thập kỷ 70, trên cơ sở tiềm lực kinh tế đã đạt được, Đài Loan phát triển các ngành công nghiệp nặng then chốt như gang thép, đóng tàu, hóa dầu, đồng thời tiếp tục phát triển các ngành hàng hướng vào xuất khẩu. Sang thập kỷ 80, Đài Loan điều chỉnh lại cơ cấu ngành công nghiệp nhằm nâng cao trình độ hơn, với hướng tập trung vào các ngành công nghiệp mũi nhọn như điện tử, xử lý thông tin, cơ khí và chế tạo linh kiện ô-tô, coi đó là những ngành chiến lược. Thập niên đầu thế kỷ XXI đến nay, Đài Loan phát triển nền kinh tế chú trọng đổi mới sáng tạo và liên kết với toàn cầu. Hiện nay, Đài Loan vẫn tiếp tục nâng cấp ngành của mình theo các hướng sau - Năm 2002, Đài Loan đề ra kế hoạch 6 năm phát triển kinh tế gọi là “Challenge 2008”. Hai trong bảy mục tiêu của kế hoạch này là tăng số lượng sản phẩm và công nghệ đáp ứng tiêu chuẩn cao nhất của thế giới, và tăng chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển lên 3% GDP. Trong 10 lĩnh vực được nhất mạnh có phát triển thế hệ con người mới, đưa Đài Loan trở thành lãnh thổ kỹ thuật số và là đại bản doanh của các công ty xuyên quốc gia. - Phát triển 6 ngành công nghiệp chủ đạo mới du lịch, y tế và chăm sóc sức khỏe, công nghệ sinh học, năng lượng xanh, văn hóa và nghỉ dưỡng, nông nghiệp cao cấp. - Phát triển 4 ngành công nghiệp thông minh mới điện toán đám mây, phương tiện vận tải điện EV thông minh, kiến trúc thông minh thân thiện môi trường, ứng dụng công nghiệp các bằng sáng chế. Bài học rút ra cho Việt Nam Sản xuất ô tô tại Việt Nam Điểm chung lớn nhất là, mỗi nước đều khai thác tối đa những lợi thế so sánh về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, các nguồn lực về tài nguyên, lao động, nguồn vốn, khoa học, công nghệ, vị trí địa lý... để phát triển những ngành nghề trọng tâm mà chiến lược phát triển đặt ra, phù hợp từng giai đoạn, đặc biệt trong bối cảnh CMCN Trong những năm tới, hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển là xu hướng chủ đạo, mặt khác, cách mạng khoa học - công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao làm tăng nhanh sản lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa đời sống kinh tế và đời sống xã hội. Vì vậy, chỉ những quốc gia nào biết phát huy những lợi thế của mình, xác định được chỗ đứng trong chuỗi giá trị toàn cầu, phát triển một nền kinh tế mở và hợp với xu thế của thế giới mới thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vai trò quản lý của nhà nước với các chính sách vĩ mô rất quan trọng, đặc biệt là trong những giai đoạn đầu của công nghiệp hóa khi mà những mất cân đối còn tồn tại nhiều trong nền kinh tế - xã hội. Sự quản lý của nhà nước thông qua pháp luật, chính sách bảo đảm cho sự phát triển đúng hướng đề ra những mối quan hệ quốc tế, mối quan hệ trong nội bộ nền kinh tế, trong các ngành thuận lợi, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển. Một bài học nữa là, tùy theo đặc điểm tình hình của mỗi nước về kinh tế - xã hội mà mỗi nước lựa chọn cho mình hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nào cho hợp lý và có kết quả nhất. Thực tiễn cho thấy, trong những giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, do ít vốn, lao động nhiều. Chỉ khi tiềm lực kinh tế đã khá vững mới chuyển sang phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao.
'Tôi là giáo viên hướng dẫn, đưa ra ý tưởng, tìm kinh phí... Tên bài báo, nội dung, tính mới của cả hai bài là khác nhau', Bùi Xuân Thành khẳng định. Bùi Xuân Thành giới thiệu một thành quả nghiên cứu tại phòng thí nghiệm - Ảnh TRẦN HUỲNHTạp chí Journal of Environmental Management thuộc Nhà xuất bản Elsevier vừa thông báo gỡ bỏ retracted bài báo quốc tế xuất bản năm 2018 của nhóm tác giả từ Việt Nam và Hàn Quốc do sao chép một công trình đã công bố trước đó hơn 2 năm trên tạp chí Bioresource tác giả gồm 7 ngườiTác giả liên hệ corresponding author của bài báo bị rút bỏ là Bùi Xuân Thành - trưởng bộ môn khoa học và công nghệ nước, khoa môi trường và tài nguyên Trường ĐH Bách khoa ĐH Quốc gia Ông Thành hiện là thư ký Hội đồng khoa học nghiên cứu ứng dụng - lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ của báo bị gỡ bỏ được xuất bản trên số đặc biệt special issue công bố các báo cáo trình bày trong Hội nghị quốc tế lần thứ 5 về hóa phân tích môi trường ISEAC 5 - Asia diễn ra vào tháng 5-2017 tại Ông Bùi Xuân Thành là đồng chủ tịch co-chair hội đồng khoa học của ISEAC 5 - Asia, đồng thời là một trong các biên tập viên khách mời guest editor phụ trách số đặc biệt này. Theo thông báo từ tạp chí Journal of Environmental Management, bài báo bị gỡ bỏ được xuất bản hồi tháng 8-2018 của nhóm tác giả gồm bảy tác giả bài báo trên, theo thứ tự đứng tên trong bài báo, gồm 1. Võ Hoàng Nhật Phong, Trường ĐH Tôn Đức Thắng nghiên cứu sinh tại ĐH Công nghệ Sydney, Úc vào thời điểm đăng bài; 2. Bùi Xuân Thành, Trường ĐH Bách khoa ĐH Quốc gia 3. Nguyễn Thanh Tín, Trường ĐH Duy Tân nghiên cứu sinh tại Viện Khoa học và Công nghệ Gwangju, Hàn Quốc vào thời điểm đăng bài; 4. Nguyễn Đình Đức, Đại học Kyonggi, Hàn Quốc; Đào Thanh Sơn, Trường ĐH Bách khoa ĐH Quốc gia 6. Cao Ngọc Đan Thanh, Trường ĐH Duy Tân nghiên cứu sinh tại ĐH Công nghệ quốc gia Đài Loan, Đài Loan vào thời điểm đăng bài; 7. Võ Thị Kim Quyên, Trường ĐH Duy Tân nghiên cứu sinh tại ĐH Myongji, Hàn Quốc vào thời điểm đăng bài.Hai tác giả Nguyễn Thanh Tín và Bùi Xuân Thành cũng đứng tên cùng với ba tác giả khác bài báo trên tạp chí Bioresource Technology có nội dung giống bài báo bị Journal of Environmental Management gỡ giả bài báo quốc tế bị gỡ nói gì?Sáng 8-6, trao đổi với Tuổi Trẻ về sự việc trên, ông Bùi Xuân Thành cho biết hai bài báo nêu trên cùng là nghiên cứu về vi tảo và đều là kết quả nhóm nghiên cứu của ông thực hiện từ năm 2014 đến nay. "Tôi là giáo viên hướng dẫn, đưa ra ý tưởng, tìm kinh phí... Tên bài báo, nội dung, tính mới của cả hai bài là khác nhau" - ông Thành khẳng trùng lặp một phần trong hai bài báo là do hình mô tả bể phản ứng, một số dữ liệu trong thí nghiệm. Những dữ liệu này sử dụng cùng một hệ bể phản ứng và các điều kiện thí nghiệm. Các dữ liệu này là cần thiết cho cả hai bài báo. Ngoài ra, trong bài báo thứ 2 bị rút lại - PV, phần nội dung thảo luận cho kết quả nghiên cứu và các tài liệu tham khảo là rất khác so với bài trước đã đăng. Hệ thống kiểm tra độ trùng lặp kết quả cũng cho thấy mức độ trùng lặp xấp xỉ 2%.Theo ông Thành, tháng 3-2019 đã từng có email của ông Berrin Tansel - tổng biên tập EIC cũ của tạp chí Journal of Environmental Management - yêu cầu làm rõ về vấn đề này. Sau khi tổng biên tập yêu cầu, ông Thành đã phản hồi cho EIC vào ngày 15-3-2019. Sau phản hồi, tạp chí không có ý kiến gì thêm và bài báo vẫn giữ trên tạp chí. Đến tháng 12-2022, ông Raf Dewil - tổng biên tập mới của tạp chí - hỏi lại nội dung nghiên cứu giải trình vào năm 2019 như đã nêu trên. Do vậy, ông Thành phải gửi email phản hồi vào ngày 12-12-2022 tới ông tổng biên tập mới."Khi phản hồi lần sau, tôi vẫn khẳng định đây là kết quả nghiên cứu của nhóm, không đạo văn. Việc tôi dùng lại một phần kết quả nghiên cứu trước đó của mình để biện luận cho kết quả mới có thể được cho là phạm lỗi. Có thể quan điểm của tổng biên tập mới khác người tiền nhiệm nên họ retracted bài báo. Tôi là tác giả chính của bài báo, là người hoàn toàn chịu trách nhiệm, không đổ lỗi cho ai" - ông Thành nói. Lạm dụng hệ thống xuất bản khoa học "Một trong những điều kiện khi nộp một bài báo để xuất bản là các tác giả phải tuyên bố rõ ràng rằng bài báo đó chưa từng được xuất bản trước đây và không ở trạng thái đang được xem xét để xuất bản ở nơi khác. Như vậy, bài báo này thể hiện sự lạm dụng hệ thống xuất bản khoa học. Cộng đồng khoa học giữ quan điểm rất nghiêm khắc về vấn đề này và gửi lời xin lỗi tới độc giả của tạp chí rằng điều này đã không được phát hiện trong quá trình các tác giả gửi bài" - thông báo của Journal of Environmental Management nêu rõ. Có thừa kế kết quả nghiên cứu trước đó Liên quan đến thông tin cho rằng công trình nghiên cứu bị gỡ bỏ nêu trên được Nafosted tài trợ, ông Bùi Xuân Thành khẳng định Cả hai bài báo nêu trên bài bị rút lại và bài trên tạp chí Bioresource Technology - PV không chính thức là sản phẩm được tài trợ bởi quỹ Nafosted và cả hai bài chưa từng được sử dụng nghiệm thu đề tài nào của quỹ. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu kế thừa kết quả nghiên cứu nền tảng từ các đề tài trước, đồng thời tự đầu tư mở rộng thêm các hướng nghiên cứu khác và nhờ đó nhóm có thêm kết quả nghiên cứu mới thể hiện qua các bài báo công bố. Do đó, nhóm đã ghi lời cảm ơn quỹ trong bài báo nhưng không ghi mã số đề tài và như vậy hoàn toàn không thể dùng để nghiệm thu. Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0 Chuyển sao tặng cho thành viên x1 x5 x10 Hoặc nhập số sao
Bạn là một người Việt Nam và muốn tìm hiểu sâu về đất nước của mình thì Việt Nam học chắc hẳn là một ngành học phù hợp với bạn. Việt Nam học được đánh giá là một ngành học thú vị và đang thu hút nhiều bạn trẻ theo học. Đây cũng là một ngành đang có nhu cầu nhân lực cao nên cơ hội việc làm ngành Việt Nam học vô cùng rộng mở và có nhiều triển vọng. Nếu đây là ngành học bạn đang quan tâm thì hãy cùng tìm hiểu thông qua bài viết này của Hướng nghiệp GPO nhé! 1. Giới thiệu ngành Việt Nam học Việt Nam học Mã ngành 7310630 là ngành khoa học nghiên cứu đất nước và con người Việt Nam từ những thành tố văn hóa, lịch sử, địa lí, phong tục tập quán, ngôn ngữ, văn học... để làm rõ những nét riêng độc đáo, nghiên cứu toàn diện và đa dạng những lĩnh vực của một quốc gia trên góc nhìn văn hóa. Việt Nam học là ngành đào tạo có tính chất liên ngành, trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về khoa học xã hội và nhân văn, kiến thức tương đối toàn diện và hệ thống về Việt Nam học và cả tiếng Việt trong trường hợp sinh viên là người nước ngoài, có kĩ năng thực hành về quan hệ quốc tế và năng lực giao tiếp xã hội, sử dụng được một ngoại ngữ trong giao tiếp và trong công tác chuyên môn. Cử nhân Việt Nam học có thể làm việc cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ở Việt Nam, nước ngoài, các tổ chức quốc tế… Theo học ngành Việt Nam học, sinh viên sẽ được trang bị sinh viên sẽ được trang bị những kiến thức thuộc các chuyên ngành về Du lịch và quản lý hướng dẫn du lịch, Hướng dẫn du lịch, Văn hóa du lịch... Cụ thể là những kiến thức về con người và đất nước Việt Nam Phong tục, tập quán của người Việt trên mọi miền của đất nước Việt Nam, trong đó có phong tục về cưới hỏi, ma chay, giỗ tết, lễ hội… Văn hoá giao tiếp của người Việt Giao tiếp trong sinh hoạt gia đình; Giao tiếp nơi công sở; Giao tiếp trong trường học; Giao tiếp trong kinh doanh; Giao tiếp trong khi tiếp khách; Văn hoá ẩm thực của người Việt Các món ăn đặc trưng và cách nấu món ăn của mỗi vùng trên đất nước Việt Nam. Văn hoá mặc truyền thống của người Việt trong từng thời kì lịch sử. Kiến thức về văn hóa, lịch sử, văn học... 2. Các trường đào tạo ngành Việt Nam học Khu vực miền Bắc ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐHQGHN - USSH ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI - HNUE ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 ĐẠI HỌC SAO ĐỎ ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG - DHHP ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI - HNMU ĐẠI HỌC THÀNH ĐÔ ĐẠI HỌC THĂNG LONG - TLU Khu vực miền Trung ĐẠI HỌC VINH - TDV ĐẠI HỌC DUY TÂN - DTU ĐẠI HOC QUẢNG NAM ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC HUẾ ĐẠI HỌC QUY NHƠN ĐẠI HỌC PHAN CHÂU TRINH Khu vực miền Nam ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - SPS ĐẠI HỌC CẦN THƠ - CTU ĐẠI HỌC AN GIANG - AGU ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG - HIU ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH - NTT ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG - TDTU ĐẠI HOC ĐỒNG THÁP 3. Các khối xét tuyển ngành Việt Nam học A00 Toán, Vật lí, Hóa học A01 Toán, Vật lí, Tiếng Anh C00 Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí C03 Ngữ văn, Toán, Lịch sử C04 Ngữ văn, Toán, Địa lí C19 Ngữ văn, Lịch sử, Giáo dục công dân D01 Ngữ văn, Toán, Tiếng Anh D02 Ngữ văn, Toán, Tiếng Nga D03 Ngữ văn, Toán, Tiếng Nga D04 Ngữ văn, Toán, Tiếng Trung D78 Ngữ văn, Khoa học xã hội, Tiếng Anh D05 Ngữ văn, Toán, Tiếng Đức D06 Ngữ văn, Toán, Tiếng Nhật D14 Ngữ văn, Lịch sử, Tiếng Anh D15 Ngữ văn, Địa lí, Tiếng Anh 4. Chương trình đào tạo A Khối kiến thức chung 1 NLCB của CN Mác-Lênin-phần 1 2 Tiếng Anh 1 3 Tiếng Pháp 1 4 Tiếng Nga 1 5 Tiếng Trung 1 6 Giáo dục thể chất 1 7 NLCB của CN Mác-Lênin-phần 2 8 Tiếng Anh 2 9 Tiếng Pháp 2 10 Tiếng Nga 2 11 Tiếng Trung 2 12 Tin học đại cương 13 Tư tưởng Hồ Chí Minh 14 Tiếng Anh 3 15 Tiếng Pháp 3 16 Tiếng Nga 3 17 Giáo dục thể chất 3 18 Tiếng Trung 3 19 Đường lối CM của ĐCS Việt Nam 20 Lịch sử-Văn hóa-Con người Hà Nội B Khối kiến thức chuyên ngành 1 Giáo dục quốc phòng 2 Phương pháp nghiên cứu khoa học 3 Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm 4 Lịch sử văn minh thế giới 5 Xác suất thống kê 6 Xã hội học 7 Nhập môn khu vực học 8 Nhân học văn hóa 9 Giáo dục thể chất 2 10 Âm nhạc 11 Mỹ học và Giáo dục thẩm mỹ 12 Kỹ năng giao tiếp 13 Cơ sở văn hóa Việt Nam 14 Văn học dân gian Việt Nam 15 Địa lí Việt Nam 1 16 Thực tế Văn hóa & Văn học dân gian 17 Nhân học đại cương và các dân tộc Việt Nam 18 Hán Nôm 1 19 Lịch sử Văn học Việt Nam 1 20 Tiếng Việt thực hành và Hoạt động giao tiếp Tiếng Việt 21 Lịch sử Việt Nam 1 22 Địa lí Việt Nam 2 23 Văn hóa Việt Nam trong Đông Nam Á 24 Giáo dục thể chất 4 25 Giáo dục vì sự phát triển bền vững 26 Hán Nôm 2 27 Tiếng Anh chuyên ngành 28 Tiếng Pháp chuyên ngành 29 Tiếng Nga chuyên ngành Toán1 30 Lịch sử Văn học Việt Nam 2 31 Cơ sở ngôn ngữ học 32 Lịch sử Việt Nam 2 33 Thực tế Lịch sử & Địa lí Việt Nam 34 Lịch sử Văn học Việt Nam 3 35 Ngữ pháp và Phong cách học Tiếng Việt 36 Lịch sử Việt Nam 3 37 Văn hóa phương Đông 38 Tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam 39 Phong tục, tập quán Việt Nam 40 Quy hoạch du lịch Việt Nam 41 Lý thuyết truyền thông 42 Thể chế chính trị Việt Nam hiện đại 43 Lịch sử tư tưởng Việt Nam 44 Thực tế Du lịch - Văn hóa - Báo chí 45 Gia đình-dòng họ-làng xã người Việt 46 Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch 47 Nghiệp vụ báo chí 1 48 Thực tập chuyên môn 1 VNH 49 Kinh tế Việt Nam 50 Du lịch sinh thái 51 Quản trị lữ hành và Marketing du lịch 52 Phương pháp nghiên cứu và nghiệp vụ về lĩnh vực văn hóa 53 Tổ chức và quản lí các hoạt động văn hóa 54 Quản lí di sản văn hóa và phát triển du lịch 55 Nghiệp vụ báo chí 2 56 Quan hệ công chúng 57 Thực tập chuyên môn 2VNH 58 Khoá luận tốt nghiệp Theo Đại học Sư phạm Hà Nội 5. Cơ hội việc làm sau tốt nghiệp Cơ hội nghề nghiệp ngành Việt Nam học ngày càng rộng mở và đa dạng. Với kiến thức và các kĩ năng được trang bị, sau khi tốt nghiệp ngành này, các bạn có thể đảm nhiệm công việc ở các lĩnh vực như Làm việc tại các cơ quan nghiên cứu và quản lí văn hóa, các tổ chức văn hóa, chính trị, xã hội giáo dục, khoa học, các tổ chức nước ngoài... Làm việc trong các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, các cơ quan đại diện, văn phòng thương mại, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ ở trong và ngoài nước Việt Nam; Trở thành hướng dẫn viên du lịch hay quản trị lữ hành tại các công ty du lịch trong cả nước; Giảng dạy tại các trường cao đẳng, đại học có ngành Việt Nam học hoặc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài; Làm việc trong các cơ quan báo chí, truyền hình hoặc truyền thông, tổ chức sự kiện… Lời kết Hướng nghiệp GPO hy vọng rằng các bạn đã có thông tin về ngành Việt Nam học. Nếu bạn muốn xác định sự phù hợp của bản thân với ngành học này, hãy cùng Hướng nghiệp GPO làm bài trắc nghiệm sở thích nghề nghiệp Holland nhé! Minh Trâm Theo Bài viết khác Đừng chọn nghề theo 'trend' Ngày đăng 18/03/2023 - Lượt xem 350 Chọn ngành học theo nhu cầu của bản thân hay xu hướng xã hội trend là câu hỏi của nhiều thí sinh đặt ra trước mỗi mùa tuyển sinh. Xem thêm [+] Tuyển sinh ngành sư phạm Mừng đầu vào, lo đầu ra? Ngày đăng 14/03/2023 - Lượt xem 311 Chính sách hỗ trợ tiền học phí và chi phí sinh hoạt đối với sinh viên sư phạm của Nghị định 116/2020/NĐ-CP là một trong số nguyên nhân tác động tới sức hút nhóm ngành sư phạm trong hai mùa tuyển sinh gần đây. Tuy nhiên, khi triển khai, quy định này vẫn còn khoảng cách với thực tế. Xem thêm [+] Học ngành Địa lý học ra làm gì? Cơ hội làm việc của ngành Địa lý học Ngày đăng 25/12/2021 - Lượt xem 2214 Không phải bất cứ chúng ta ai cũng hiểu hoàn toàn về thế giới và các vùng lãnh thổ mà tất cả sẽ dựa vào ngành địa lý. Một chuyên môn trang bị đầy đủ kiến thức về vị trí, vùng, dân cư, tài nguyên, ngành công nghiệp,... Bởi vậy nếu chính ai theo học chuyên ngành này sẽ thực sự không thất vọng. Vậy học ngành địa lý học ra làm gì? Hãy cùng... Xem thêm [+] A03 gồm những môn nào, ngành nào? Hướng dẫn cách ôn thi khối A03 Ngày đăng 24/12/2021 - Lượt xem 955 Khối A03 là một trong các khối thi được mở rộng từ khối A truyền thống, do vậy mà ít ai biết đến khối thi này. Tìm hiểu khối A3 gồm những môn nào, ngành nào và học trường nào chi tiết trong bài viết dưới đây, các bạn hãy cùng tham khảo nhé. Ngay bây giờ, hãy cùng Hướng nghiệp GPO tìm hiểu và cập nhật về thông tin này nhé! Xem thêm [+]
Sau khi đu du học Nhật Bản về Việt Nam sẽ làm được công việc gì? Đây là điều mà rất nhiều em học sinh, sinh viên và các bậc phụ huynh quan tâm khi có ý định cho con em mình đi du học Nhật Bản. 1634 14/01/22 696 lượt xem Du học Nhật về Việt Nam làm được công việc gì là câu hỏi không những của những bạn du học sinh sắp về nước mà còn là của những bạn đang có ý định đi du học Nhật Bản. Tuy nhiên, để tìm ra một câu trả lời chi tiết nhất thì không phải ở đâu cũng có. Hiểu được điều đó, Việt Trí MD xin tổng hợp thông tin chi tiết nhất về cơ hội việc làm cho du học sinh tại Nhật Bản khi về nước. Hy vọng sẽ giúp bạn giải đáp được những thắc mắc này để có một quyết định tốt nhất khi du học Nhật quay về Việt Nam. Du học Nhật Bản làm gì sau khi về nước 1. DU HỌC NHẬT BẢN HỌC LÀ GÌ? HỌC GÌ? Một điều chắc chắn phải nói đến chính là không phải ai cũng có cơ hội du học Nhật Bản vừa học vừa làm được. Nhật Bản có nền giáo dục đứng TOP 1 thế giới. Vì thế, bằng cấp sau khi nhận được ở đây có giá trị trên toàn thế giới. Bạn có thể dùng tấm bằng ấy đến bất cứ quốc gia nào để làm việc và học tập. Nhiều người không tin về việc này. Sở dĩ như vậy vì họ thấy nhiều sinh viên Việt Nam sau du học về nước thì chỉ đơn thuần là biết tiếng Nhật chứ chẳng thấy có gì đặc biệt. Họ thấy những người này về nước và vẫn phải lo lắng du học Nhật về nước làm gì. Đây thực ra xuất phát từ sự hiểu lầm, đại học mà về nước luôn. Chính vì vậy, những người này chỉ mới có chứng chỉ tiếng Nhật thôi. Đơn thuần là học chưa có bằng cấp chuyên môn nào cả. Nhiều người không biết lại hiểu sai về việc du học Nhật Bản là học gì. 2. TRÌNH ĐỘ CỦA DU HỌC SINH NHẬT BẢN VỀ NƯỚC Hằng năm, có rất nhiều bạn học sinh, sinh viên từ Nhật Bản trở về Việt Nam. Họ kết thúc việc học và quyết định trở về Việt Nam tìm kiếm cơ hội việc làm khác. Du học Nhật Bản về Việt Nam làm gì còn phụ thuộc vào trình độ của từng các bạn học sinh, sinh viên. Thực chất, trình độ của họ cũng khác nhau. Đối với những bạn chỉ kết thúc chương trình học Nhật Ngữ đã về nước thì trong tay họ chỉ đang có chứng chỉ tiếng Nhật. Vốn ngoại ngữ là những gì họ sở hữu. Phần lớn du học sinh về nước trình độ tiếng Nhật đạt N3, N4. Mặt khác, với những bạn có học lên trung cấp, cao đẳng, đại học thì trình độ của họ sẽ cao hơn. Ngoài vốn tiếng, học sinh, sinh viên còn có chuyên môn trong lĩnh vực mình đào tạo. Hầu hết tiếng Nhật của họ trình độ N3, số khác còn lên đến N2. Với sự nổi tiếng của nền giáo dục Nhật Bản, chuyên môn của học sinh, sinh viên cũng rất cao. Vì thế nên việc tìm việc làm cũng dễ hơn. 3. DU HỌC NHẬT BẢN VỀ NƯỚC LÀM GÌ? CƠ HỘI VIỆC LÀM NHƯ THẾ NÀO? Có rất nhiều công việc mà du học sinh sau khi du học Nhật Bản về nước có thể chọn lựa. Cơ hội việc làm cho du học sinh về nước cũng rất rộng mở. Đối với những bạn chỉ có vốn tiếng Nhật sau khi về nước, những công việc bạn có thể làm là. Kinh doanh hàng xách tay Nhật Mở quán kinh doanh ẩm thực Nhật Bản Làm giáo viên dạy tiếng Nhật Phiên dịch viên tiếng Nhật Công nhân tại các nhà máy hoặc công ty Nhật Bản Làm tại các công ty du học hoặc xuất khẩu lao động sang Nhật Bản Hướng dẫn viên du lịch Riêng đối với những bạn đã có bằng cấp chuyên môn ở Nhật thì việc du học Nhật về Việt Nam làm gì càng rộng mở hơn. Ngoài những công việc phía trên, bạn có thể làm những công việc theo đúng chuyên môn mình đào tạo. Học chuyên ngành gì thì ra làm theo những công việc liên quan đến chuyên ngành đó. Bạn cũng có thể tự thành lập công ty. Hoặc xin vào chức vụ nào đó trong một công ty. Không chỉ các công ty của Nhật, du học Nhật về nước mà có chuyên môn, bằng cấp đàng hoàng thì công ty nào cũng muốn sở hữu bạn. 4. CÔNG VIỆC TỐT NHẤT KHI DU HỌC NHẬT BẢN VỀ NƯỚC Hiện nay, công việc tại Việt Nam khá là phong phú nên những nơi làm việc cũng rất đa dạng. Ngoài phân vân việc du học Nhật về Việt Nam làm gì, giờ bạn còn phải để ý xem ở đâu nữa. Hiện nay, có rất nhiều công ty Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam. Con số này ngày càng tăng theo từng năm. Nhu cầu nhân lực ở những doanh nghiệp này cũng khá lớn. Với những gì bạn có được trong những năm ở Nhật Bản, bạn hoàn toàn có thể vào những doanh nghiệp như thế này để làm việc. Mức lương ở đây cũng khá hấp dẫn. Ngoài ra, những công ty về biên phiên dịch hay công ty du lịch bạn cũng có thể làm. Với việc du học Nhật ngày càng thu hút nhiều sinh viên. Những công ty du học hay xuất khẩu lao động cũng xuất hiện. Bạn cũng có thể chọn một nơi uy tín và làm việc tại đó. Với nhiều lợi thế trong tay, du học Nhật về nước làm gì thực chất cũng không quá phải lo lắng. Công việc sẽ đúng với trình độ của bạn. Vì thế những bạn du học sinh Nhật Bản nên cố gắng học tập. Cơ hội việc làm cho du học sinh về nước sẽ rộng mở đón bạn. Các bạn thân mến. Hiện nay đi du học Nhật Bản về nước vẫn có rất nhiều con đường rộng mở để bạn có thể phát triển bản thân, sự nghiệp. Nếu bạn cần sự hỗ trợ tư vấn hãy liên hệ ngay với Việt Trí MD để được đội ngũ cán bộ tư vấn của chúng tôi hỗ trợ tư vấn cho bạn. ĐĂNG KÝ NGAY NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ Bản đồ chỉ đường đến Việt Trí MD
Là một người quan tâm đến giáo dục và mong muốn đóng góp vào công cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam, trong thời gian du học tại Nhật Bản, nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Vương đã tìm tòi nghiên cứu và có nhiều bài báo, công trình nghiên cứu có tính phản biện và đưa ra các phân tích mang tích độc lập về các vấn đề nóng của giáo dục Việt Nam. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy hầu hết các vấn đề của giáo dục Việt Nam hiện nay còn đang tranh cãi thì ở Nhật đã gặp phải, cũng như đã giải quyết được cách đây hơn 70 năm. Và để có được một xã hội Nhật Bản thịnh vượng như ngày nay, Nhật Bản đã phải trải qua công cuộc cải cách giáo dục một cách toàn diện, thậm chí chấp nhận xóa bỏ toàn bộ nền giáo dục trước đó. Chương trình giáo dục phổ thông Nhật Bản đã đổi mới thành công bởi các nhà quản lý giáo dục Nhật Bản Chú trọng “cải cách giáo dục từ dưới lên”; coi Chương trình chỉ là tham khảo; Các môn học và phương pháp kiểm tra, đánh giá mới hoàn toàn mới so với trước. “ Sau khi chính quyền Minh Trị được thiết lập năm 1868, trong vòng 10 năm đầu, quá trình cận đại hóa theo hướng “khai hóa văn minh” được xúc tiến mạnh mẽ. Cải cách giáo dục đã đi từ các thay đổi lẻ tẻ ở địa phương trở thành chính sách quốc gia. Phương châm của chính phủ Minh Trị lúc đó là đẩy mạnh cải cách giáo dục để cận đại hóa đất nước, du nhập nhanh và rộng các giá trị văn minh phương Tây. Để “nhập khẩu” văn minh, chính phủ Minh Trị đã cử học sinh ra nước ngoài du học và tích cực sử dụng người phương Tây trong vai trò là các chuyên gia, cố vấn.” “Ở Nhật Bản trước Chiến tranh thế giới thứ hai, “triết lý giáo dục” không được coi trọng hay nói khác đi là không được ý thức đầy đủ. Nền giáo dục khi ấy được vận hành chủ yếu bởi các nguyên lý bất biến được xác định bởi “Học chế” và “Sắc chỉ giáo dục” do Thiên hoàng Minh Trị ban hành. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, dựa trên nền tảng của Hiến pháp 1946, triết lý giáo dục mới được xây dựng. Triết lý này được ghi rõ trong các bộ Luật về giáo dục như Luật giáo dục cơ bản, Luật giáo dục nhà trường, Luật về Ủy ban giáo dục…Trong các bản Hướng dẫn học tập phần đầu tiên bao giờ cũng là phần trích dẫn những nội dung quan trọng nhất của Luật giáo dục cơ bản, Luật giáo dục trường học và Quy tắc thực thi Luật giáo dục trường học. Ở đó, triết lý giáo dục được trang trọng đặt ở chương đầu tiên “Mục đích và triết lý giáo dục”. Triết lý giáo dục mới này được thể hiện tập trung ở mục tiêu giáo dục nên người công dân có đầy đủ tri thức, phẩm chất, năng lực phù hợp với xã hội dân chủ, hòa bình, tôn trọng con người.” Từ việc so sánh về giáo dục Việt Nam và Nhật Bản, tác giá đưa ra kết luận Ở Việt Nam cho đến nay “triết lý giáo dục” vẫn là một thuật ngữ chuyên môn tương đối mới và xa lạ. Trong các văn bản quản lý giáo dục và thậm chí trong Hiến pháp, Luật giáo dục cũng không hề thấy xuất hiện thuật ngữ này mặc dù đối với một nền giáo dục “Triết lý giáo dục” là vô cùng quan trọng. Vì vậy, về lâu dài muốn xây dựng được nền giáo dục dân tộc, hiện đại và hội nhập quốc tế thì chắc chắn vấn đề “triết lý giáo dục” cần phải được giải quyết thấu đáo. Giáo dục Việt Nam cần đến một triết lý thu nhận được sự đồng thuận của đông đảo nhân dân và phù hợp với những giá trị phổ quát của nhân loại. Một khi có triết lý giáo dục rõ ràng, cải cách giáo dục sẽ diễn ra thuận lợi tạo nên những thay đổi tích cực. Tác giả khẳng định, nếu không có một Triết lý giáo dục rõ ràng thì dù có nhập khẩu các chương trình giáo dục nổi tiếng, đã thành công trên thế giới, hay việc tìm tới những phương pháp giảng dạy tối ưu càng khiến giáo dục Việt Nam rơi vào tình trạng rối như bế tắc và có những biến tướng khó có thể chấp LỤCPHẦN DỤC VIỆT NAM VÀ GIÁO DỤC NHẬT BẢN1. Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản?2. Cải cách giáo dục từ dưới lên 3. “Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông như bài thơ viết vội4. Một chương trình-nhiều bộ sách giáo khoa Những điều kiện đủ5. Ý nghĩa của cơ chế “một chương trình, nhiều sách giáo khoa”6. Khi người thầy nhầm lẫn “quyền lực” với “quyền uy”7. Lớp trưởng là chủ tịch Đừng “chế Mercedes thành công nông”! 8. Tại sao không dạy nghề mà chỉ là “định hướng nghề nghiệp”?9. Tại sao không phải là con đại gia đỗ thủ khoa’?10. Chỉ vì chữ “tác” thành chữ “tộ”11. Nhật Bản cải cách giáo dục như thế nào?12. Chương trình giáo dục phổ thông Nhật Bản-bước ngoặt về tư duy giáo dục13. Chương trình giáo dục phổ thông Nhật Bản được tạo ra như thế nào?14. Yếu tố tạo ra thành công của cải cách giáo dục Nhật Bản15. Đánh giá học sinh ở Nhật khác gì ở Việt Nam?16. Du học Nhật Bản không có chỗ cho người mơ mộng17. Sau 1945, học sinh Nhật Bản đã học những “kĩ năng sống” nào?18. Từ chuyện tổ chim ngẫm về giáo dục Tính “địa phương” trong giáo dục phổ thông – một bài học sâu PHẦN DỤC LỊCH SỬ Ở VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN1. Hướng đi nào cho giáo dục lịch sử ở Việt Nam?2. "Đơn thuốc nào cho căn bệnh “giáo dục lịch sử”3. Đối thoại hậu bài viết “Đơn thuốc cho giáo dục lịch sử”4. Học tập nước ngoài, nhưng cẩn thận mắc bệnh hình thức’5. Khi học sinh không chọn môn Sử thi tốt nghiệp phổ thông trung học6. Khám phá, giải mã quá khứ qua lịch sử7. Môn Sử biến mất’ và thách thức chưa từng có của Bộ Giáo dục8. Lịch sử phải là môn “khoa học” trước khi thành môn “bắt buộc”9. Dạy học tích hợp có mâu thuẫn với sự độc lập của môn Lịch Sử?10. Thư một học sinh gửi người lớn Không chọn thi môn Sử có gì là sai?11. Thử phát triển “nhận thức lịch sử khoa học” và “phẩm chất công dân” cho học sinh lớp 8 qua thực tiễn dạy học lịch sử ở Trường THCS và THPT Nguyễn Tất Cải cách giáo dục lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản thời hậu chiến 1945-1950 và những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam13. Tìm hiểu về ba hình thái giáo dục lịch sử trong trường phổ thông Nhật Bản từ sau 194514. Sách giáo khoa lịch sử Nhật Bản Nơi học sinh lớp 6 có thể là nhà sử học Tác giả Nguyễn Quốc Vương đã từng làm giảng viên Khoa Lịch sử - Trường Đại học sư phạm Hà Nội. Làm nghiên cứu sinh tại Nhật Bản, anh tâm huyết với các vấn đề giáo dục của nước nhà và có nhiều bài viết, dịch về các vấn đề liên quan đến giáo dục, cải cách giáo dục và so sánh giáo dục Việt Nam và Nhật Bản. Hiện nay anh là nhà nhà phê bình tự do và tập trung cho các hoạt động khuyến đọc. Tác phẩm đã xuất bản Các tác phẩm đã dịch 1. Cải cách giáo dục Nhật Bản - Ozaki Mugen, NXB Từ điển Bách Khoa và Thaihabooks, 20142. Sổ tay giáo dục gia đình Nhật Bản, Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản, NXB Phụ nữ và Công ty cổ phần Sách Truyền thông Quảng Văn, 20163. Hướng dẫn học tập môn xã hội, tập 1, Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học Công nghệ Nhật Bản, NXB Đại học Sư Phạm, 20164. Hướng dẫn học tập môn xã hội, tập 2, Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học Công nghệ Nhật Bản, NXB Đại học Sư Phạm, 2017Tác phẩm sáng tác1. Điều bí mật trong vườn thơ, NXB Văn học, 2015. 2. Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản, NXB Phụ nữ, 20163. Môn Sử không chán như em tưởng, NXB Phụ nữ, 20174. Mùi của cố hương, NXB Phụ nữ, 20175. Đi tìm triết lý giáo dụcNhà xuất bản Phụ nữ xin trân trọng giới một số bài viết trong sách “70 năm sau ngày độc lập Việt Nam lại đứng trước những thử thách và lựa chọn quan trọng trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ tư. Hơn lúc nào hết giáo dục đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của người dân cả nước. Ở đó, người dân đủ mọi thành phần thông qua truyền thông đại chúng, mạng xã hội và các diễn đàn khác, đang hàng ngày thể hiện sự lo lắng trước hiện trạng giáo dục và kỳ vọng vào cải cách. Nỗi lo lắng và niềm hy vọng ấy của người dân là dễ hiểu. Đơn giản vì giáo dục có tác động trực tiếp đến mọi gia đình trong xã hội và quyết định đến sự hưng vong của dân tộc. Cải cách thực sự và triệt để là phương thức hữu hiệu để giải quyết các vấn đề đang ngày một trở nên trầm trọng trong nền giáo dục của nước ta hiện nay. Tuy nhiên, để đi tới thành công cải cách giáo dục phải đáp ứng được nguyện vọng của người dân và phù hợp với xu hướng chung của giáo dục thế giới trong thời đại toàn cầu hóa. Vì thế, trong quá trình thiết kế và thực thi cải cách giáo dục, sẽ có hai công việc cần phải được tiến hành Thứ nhất là xem xét lại toàn bộ nền giáo dục từ trước đến nay để phân tích, tìm ra những ưu điểm cần lưu giữ, phát triển và những vấn đề cần phải giải quyết. Thứ hai là nghiên cứu giáo dục thế giới, đặc biệt là giáo dục ở các nước tiên tiến để tham khảo, học hỏi từ đó xây dựng phương án cải cách phù hợp. Cả hai công việc đó đều cần đến tư duy và thao tác so sánh. Giáo dục Việt Nam chỉ có thể được nhận thức một cách khách quan, toàn diện và sâu sắc khi nó được tham chiếu, so sánh với giáo dục ở các nước khác. Với tư cách là một người làm giáo dục và muốn đóng góp vào công cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam, tôi đã sử dụng tư duy so sánh nói trên để nhận thức về giáo dục Việt Nam. Những bài viết được tập hợp trong cuốn sách có tên “Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản?” này là kết quả của việc so sánh giáo dục Việt Nam và Nhật Bản được tôi tiến hành từ năm 2009 đến nay. Hy vọng, thông tin từ các bài viết trong cuốn sách nhỏ này sẽ có ích cho bạn đọc trong quá trình nhận thức về giáo dục và góp phần thúc đẩy cải cách giáo dục ở Việt Nam sớm thành công.” Nguyễn Quốc Vương Trích Lời nói đầu “Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật BảnCải cách giáo dục từ dưới lên Cải cách giáo dục, dưới góc độ lịch sử, có thể được chia làm hai loại cải cách từ trên xuống và cải cách từ dưới lên. Cải cách giáo dục từ trên xuống được hiểu là cuộc cải cách xuất phát từ phía nhà nước - các cơ quan quản lý giáo dục, đứng đầu là Bộ Giáo dục và Đào tạo, thông qua các chính sách và chỉ đạo có tính chất hành chính, bắt buộc. Trái lại, cải cách giáo dục từ dưới lên được tiến hành bởi các giáo viên ở các trường học và bằng các “thực tiễn giáo dục”.“Thực tiễn giáo dục” là gì?Có thể hiểu một cách đơn giản rằng “thực tiễn giáo dục” là tất cả những gì giáo viên thiết kế, tiến hành trong một khoảng thời gian ngắn như một vài tiết học khi thực hiện một chủ đề học tập, trong một học kỳ, một năm học hoặc cũng có thể là cả quãng đời dạy học, và thu được ở hiện trường giáo dục. Các thực tiễn giáo dục là kết quả tự chủ và sáng tạo của giáo viên trên cơ sở nghiên cứu mục tiêu giáo dục, chương trình khung, sách giáo khoa, tình hình thực tế của nhà trường, học sinh. Thực tiễn giáo dục có thể không hoàn toàn trùng khớp hay chỉ là sự minh họa, diễn giải những gì được trình bày trong sách giáo khoa, nó là sản phẩm của sự sáng tạo mang đậm dấu ấn của giáo viên, của ngôi trường họ đang dạy học. Chính vì vậy, thực tiễn giáo dục thường được gọi bằng cái tên gắn liền với ngôi trường hoặc giáo viên sáng tạo ra trò của “thực tiễn giáo dục”Có thể coi thực tiễn giáo dục là một con đường đi giữa những chỉ đạo về nội dung và phương pháp giáo dục của cơ quan hành chính giáo dục và tình hình thực tế trường học nhằm đi đến cái đích là “mục tiêu giáo dục”. Đây là nơi thể hiện tài năng nghề nghiệp của giáo viên. Khi thiết kế và thực thi thực tiễn giáo dục, giáo viên phải xử lý một cách khéo léo nhất mối quan hệ giữa chương trình, sách giáo khoa, mục tiêu giáo dục, yêu cầu thực tế của xã hội, nguyện vọng của phụ huynh, nhu cầu truy tìm chân lý nội tại của học sinh và tình hình thực tế của nhà trường, địa việc thiết kế và thực hiện các thực tiễn giáo dục có tính độc lập tương đối và mang tính sáng tạo cao, các giáo viên sẽ tạo ra sự thay đổi tích cực ở ngay hiện trường giáo dục. Hàng ngàn, hàng vạn thực tiễn giáo dục như vậy khi hợp lại, với hiệu quả cộng hưởng, sẽ làm nên cuộc “cải cách giáo dục từ dưới lên”. Thực tế lịch sử đã chứng minh, các cuộc cải cách giáo dục từ trên xuống cho dù ban đầu có quy mô đến bao nhiêu đi nữa thì về sau nó cũng dần dần nguội lạnh. Vì vậy, các cuộc cải cách giáo dục từ dưới lên với vô vàn các thực tiễn giáo dục vừa có tác dụng thúc đẩy, duy trì vừa có tác dụng điều chỉnh cuộc cải cách giáo dục từ trên xuống. Nói cách khác, trong cuộc cải cách giáo dục, giáo viên sẽ không chỉ đóng vai trò như một người thợ, một người thừa hành thuần túy mà họ, bằng lao động nghề nghiệp giàu tính chủ động, sáng tạo, thấm đẫm tinh thần tự do, sẽ dẫn dắt giáo dục đi đúng hướng và thực hiện mục tiêu giáo phạm vi hẹp hơn, các thực tiễn giáo dục còn tạo cơ hội cho các giáo viên trong trường học và các đồng nghiệp xa gần trao đổi chuyên môn thực sự. Thực tiễn giáo dục được ghi chép, tổng kết lại cũng sẽ là những tư liệu quý phục vụ công tác nghiên cứu.“Thực tiễn giáo dục” được ghi lại như thế nào?Tiến hành các thực tiễn giáo dục là công việc thường xuyên của giáo viên. Đó là sự tìm tòi và sáng tạo không ngừng. Tuy nhiên, công việc của giáo viên không chỉ dừng lại ở việc thiết kế và tiến hành các thực tiễn giáo dục. Giáo viên cần ghi lại, tổng kết các thực tiễn giáo dục của bản thân và công bố chúng. Thông thường, một thực tiễn giáo dục ở quy mô nhỏ thường là một chủ đề học tập với dung lượng từ ba đến bảy tiết học được ghi lại với cấu trúc sau+ Tên “thực tiễn giáo dục” Có thể trùng với tên của chủ đề học tập hoặc tên riêng thể hiện mục tiêu, phương châm giáo dục của giáo viên.+ Thời gian-địa điểm Ghi rõ ràng, chính xác thời gian bắt đầu, kết thúc, địa điểm tiến hành thực tiễn trường, địa phương, lớp.+ Đối tượng Học sinh lớp mấy, số lượng, đặc điểm học sinh.+ “Giáo tài” Tài liệu dùng để giảng dạy và “chuyển hóa” nội dung giáo dục thành nội dung học tập của học sinh.+ Mục tiêu của “thực tiễn” chủ đề học tập Về tri thức hiểu biết, kĩ năng, mối quan tâm, hứng thú, thái độ…+ Kế hoạch chỉ đạo giáo án Bao gồm các chỉ đạo cụ thể của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh.+ Quá trình thực hiện Ghi lại khách quan, trung thực và đầy đủ tối đa về diễn tiến của thực tiễn trong thực tế, chú trọng các phát ngôn và hành động của giáo viên và học sinh.+ Hồ sơ giờ học Tập hợp các cảm tưởng, bài viết, bài kiểm tra, ghi chép của học sinh, sản phẩm của học sinh tạo ra trong thực tiễn…+ Tổng kết thực tiễn Giáo viên tự đánh giá về thực tiễn trong tham chiếu với mục tiêu đặt ra và những điểm cần lưu ý rút ra cho bản thân.+ Phụ lục Tài liệu sử dụng hoặc liên quan đến thực tiễn. Các thực tiễn giáo dục khi đã được “văn bản hóa” như trên có thể được trao đổi thông qua các buổi thuyết trình, thảo luận chuyên môn hoặc công bố trên các tập san, tạp chí. Gần đây, với sự trợ giúp của các phương tiện kỹ thuật số, giáo viên có thể ghi lại thực tiễn giáo dục bằng hình hội tiến hành các thực tiễn giáo dục ở Việt NamỞ Việt Nam, do nhiều yếu tố trong đó có sự tồn tại quá lâu của cơ chế “Sách giáo khoa quốc định” một chương trình - một sách giáo khoa, các thực tiễn giáo dục với ý nghĩa như vừa phân tích ở trên gần như không tồn tại. Sự giống nhau từ nội dung, phương pháp đến tài liệu giảng dạy, ngày giờ tiến hành của các bài học trên cả nước là biểu hiện cụ thể cho hiện thực đó. Nhận thức của giáo viên về thực tiễn giáo dục và vai trò chủ động, sáng tạo khi tiến hành các thực tiễn giáo dục cũng là một vấn đề đang được đặt nhiên, bằng việc chấp nhận cơ chế “một chương trình - nhiều sách giáo khoa” trong cuộc cải cách giáo dục đang tiến hành, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tạo điều kiện thuận lợi cho các giáo viên tiến hành các thực tiễn giáo dục. Đây là “cơ hội vàng” cho các giáo viên ở hiện trường giáo dục thực thi và tổng kết các thực tiễn. Các thực tiễn giáo dục sẽ trở thành chủ đề của các buổi sinh hoạt chuyên môn hoặc được công bố trên các tạp chí có liên quan. Các blog cá nhân của giáo viên hay website của các trường phổ thông cũng có thể là nơi công bố các thực tiễn giáo dục. Sự phong phú của các thực tiễn giáo dục sẽ tạo ra sinh khí cho các trường học và đem đến niềm vui cho giáo viên và học sinh. Bằng việc tiến hành hàng ngàn, hàng vạn các thực tiễn giáo dục trên cả nước, cải cách giáo dục từ dưới lên nhất định sẽ thành công, góp phần tạo ra những người công dân mơ ước có tư duy độc lập và tinh thần tự sản phẩm trên Tiki đã bao gồm thuế theo luật hiện hành. Bên cạnh đó, tuỳ vào loại sản phẩm, hình thức và địa chỉ giao hàng mà có thể phát sinh thêm chi phí khác như phí vận chuyển, phụ phí hàng cồng kềnh, thuế nhập khẩu đối với đơn hàng giao từ nước ngoài có giá trị trên 1 triệu đồng.....
việt nam học được gì từ nhật bản